nội dung bài tiếng đồng quê

"The Lake" (Quái vật sông Mekong) là tác phẩm đầu tay về chủ đề quái thú của điện ảnh xứ sở Chùa Vàng. Tổng thể phim chắp vá, rời rạc với kịch bản nhàm chán và nội dung cẩu thả. * Lưu ý: Bài viết tiết lộ một số chi tiết nội dung phim Rùng mình đặc sản nổi tiếng Đồng Nai, ai can đảm mới dám thưởng thức vì rất hôi hám sen là giống dơi mà người ta vẫn thường thấy chiều chiều bay chập chờn trên thành phố hay đồng quê bắt muỗi. Giống này nhỏ, chỉ hơn con chim sẻ một chút và có tiếng là hôi Bạn đang xem tài liệu "Bài kiểm tra định kì lần IV môn Tiếng Việt Lớp 5 - Năm học 2013-2014 - Trường Tiểu học Đồng Tâm (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên Luyện tập: Bài tập 1: Theo cáchtổng - phân - hợp, viết đoạn văn từ 7 -10 câu phân tích cái hay trong đoạn thơsau: Một bếp lửa chờn vờn sương sớm. Một bếp lửa ấp iu nồng đượm. Cháu thương bà biết mấy nắng mưa. ( "Bếp lửa" - Bằng Việt) Bài tập 2: Cho Bài thơ Đồng chí được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp, cuộc kháng chiến của quân và dân Việt Nam. Bởi vậy, bài thư dường như hoà quyện vẻ đẹp của quê hương, của nông thôn Việt Nam. Nhưng đặc sắc và tinh tế chính là: ở Đồng chí ta thấy được sự chia sẻ lúc ốm đau, lúc nhớ nhà và khi gian khổ. Welche Singlebörse Ist Für Frauen Kostenlos. Trang chủ Tiểu thuyết Đồng Quê » Mua Sách Tại Những Trang Thương Mại Điện Tử Uy Tín Mô tả Giới thiệu bạn đọc cuốn ebook "Đồng Quê" Đề tài nông thôn trong sáng tác của các nhà văn không phải là điều gì mới lạ. Tuy nhiên, để khắc họa được một bức tranh quê với đủ các diện mạo, màu sắc của nó không phải là điều dễ dàng. Có thể nói, phần lớn chủ đề tác phẩm của các nhà văn miền Nam *** Đây là những bài báo. Bởi thế cách hành-văn cũng như nội-dung đều có tính-cách “nhật-trình”. Lối văn gần như cẩu-thả. Câu-chuyện có vẻ nhất-thời. Nhưng tôi cứ để nguyên cho nhà xuất-bản. Nghĩ rằng hồi ấy tôi đã để ngòi bút chạy theo dòng ý-tưởng, dầu khéo dầu vụng, cách thuật chuyện cũng được cái đặc-điểm là ghi tâm-trạng tôi lúc viết. Hình-ảnh những nhân-vật trong chuyện - những người đã cùng tôi sống chung - ngày nay đã mờ trong ký-ức. Kể lại một quãng đời phải chăng là sống lại với ngày qua? Có lẽ thế. Nhưng tôi muốn xa hơn Vẽ một bức tranh phong-tục và tập-quán. Thật là quá cao-vọng. Tự thấy còn thấp-kém, nhưng tôi vẫn cố-gắng. Đây là những bài đầu, tôi ước-mong sẽ có thể viết thêm. Nếu chưa hiến được độc-giả những bài đúng theo nguyên-tắc tôi đã tự vạch, thì xin hẹn lại ở những bài sau. PHI-VÂN *** Phi Vân 1917-1977 là một nhà báo, nhà văn chuyên viết thể loại truyện vừa và tiểu thuyết mang sâu đậm dấu ấn Nam bộ trước 1954. Phi Vân tên thật là Lâm Thế Nhơn, sinh năm 1917 trong một gia đình trung lưu ở thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Ông chuyên viết phóng sự, truyện ngắn cho những tờ báo, tạp chí ở miền Nam trước đây như Tiếng Chuông, Dân Chúng, Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng và làm chủ bút tờ Thủ Đô thời báo. Ông có lối viết linh hoạt, gọn gàng, pha chút hóm hỉnh, làm cho cho độc giả khóc, cười theo từng cảnh đời, từng nhân vật. Bối cảnh trong các tác phẩm của ông là làng quê Nam bộ xa xôi hẻo lánh với những người nông dân chất phác, cục mịch sống với tập tục cổ hủ, lạc hậu và cuộc sống cực nhọc tối tăm. *** Chỗ hứng-thú của quyển phỏng-sự ấy là nó cho ta thấy những phong-tục cũ-kỹ ở thôn-quê, những tin-tưởng dị-đoan của hạng bình dân lao-động. Nó cho ta thấy những cuộc giao-tiếp, xung-đột giữa bọn điền-chủ và tá-điền, những tâm-hồn mộc-mạc trong bọn nầy và những oai-quyền thế-lực của bọn kia. Đọc qua, chúng ta thấy mình len-lỏi chốn đồng quê, đang mục-kích những cuộc tụ-họp chơi-bời, những cảnh cần-lao rộn-rịp. Thỉnh-thoảng như đưa lại giọng hò trầm bổng trong đám gặt, như phất lại mùi thơm thanh-đạm của lúa vàng. Tác-giả lại còn dắt ta đi quanh co trong những sông rạch ở vùng Bạc-liêu, Cà-mau và sau mấy ngày dạo chơi mệt-mỏi, tác-giả dừng lại cho ta thấy một cảnh-sắc êm-đềm trên bờ sông Trẹm, lững-lờ mấy làn khói trắng bốc lên và dưới hàng dừa xanh tươi, một thiếu-phụ ẵm con đứng đợi chồng về, lâu-lâu đuổi bầy gà đang bới trên giồng rau cải. Hoặc giữa đêm trường vắng-vẻ, chiếc thuyền xuôi mái theo Rạch Bần, tác-giả mời ta trông lên bờ sau hàng dừa nước âm-u, một vài ánh đèn le-lói; nghe từ xa đưa lại tiếng chày giã gạo, tiếng chó sủa đêm… Cho được kể lại rất tài tình những điều quan-sát rất kỹ-càng, làm cho ta như nghe, như thấy, lúc cảm, lúc vui, tất phải nhờ một ngọn bút tỉ-mỉ mà linh-hoạt, một giọng văn thành thật mà hữu-duyên, một cách viết tự nhiên, không rườm-rà mà đầy đủ. Ông Phi-Vân đã gồm cả mấy điều kiện ấy Quyển phỏng-sự của ông như một tấn tuồng gay-cấn đặt trong cảnh trí xanh tươi; hay là - muốn nói cho rõ hơn - nó là một “nông kịch” chia ra nhiều lớp có hồi hộp, có vui cười và và sau rốt kết cuộc rất thương-tâm, khiến cho độc-giả phải ngậm-ngùi cảm động. Có lẽ đó là bài luân-lý sâu sắc mà tác-giả không muốn chỉ cho rõ-ràng, để ta tự hiểu ngầm mà thương hại cho hạng nông dân lao-lực. Họ chỉ sống một cuộc đời mộc-mạc, siêng-năng; nhưng mãn kiếp phải làm nạn nhân cho bọn giàu sang thế-lực. Mà cả thảy chúng ta, theo như tác-giả nói lại là “nạn nhân của một thời-kỳ”; cho nên đối với mọi người ta nên để lòng thương hại và thứ dung, và nên cầu nguyện cho chốn đồng quê được chút vui tươi yên ổn… Trích lục một đoạn bài diễn-văn của giáo-sư Nguyễn-văn-Kiết chủ-tịch của Hội Khuyến-học Cần-thơ đọc trong dịp lễ phát giải thưởng văn-chương Thủ-khoa Nghĩa năm 1943. Tham khảo thêm Dòng Sông Ly BiệtTham khảo thêm Đứa Con MuộnTham khảo thêm Đứa Con Người YêuTham khảo thêm Đùa Với Thần Ái TìnhTham khảo thêm Đức Thánh TrầnCLICK LINK DOWNLOAD EBOOK TẠI ĐÂY. Thẻ từ khóa Đồng Quê, Đồng Quê pdf, Đồng Quê ebook, Tải sách Đồng Quê Tranh minh họa Ông bà cha mẹ tôi nông dân. Tôi sinh ra và lớn lên ở làng. Tôi từ làng ra đi. Ba năm quân ngũ tôi đóng quân ở thành phố. Ở cái nơi mà ánh sáng ban ngày, ánh điện ban đêm đều giống như nhau. Tôi không hòa nhập được với cuộc sống thị thành. Muốn học theo một cái gì đó lại thấy mình như thằng bé hớn hở đuổi theo bao điều phù du không có thật. Chỉ một vầng trăng mười bốn cũng làm tôi thèm đến quay quắt cả người. Một đêm đứng gác cổng doanh trại tôi hỏi thằng bạn. “Mày biết bây giờ tao thích cái gì nhất?”. “Một con gà quay và mấy cốc Tiger”. “Sai bét. Được chạy dưới trăng, ngửa mặt nhìn trời, hít căng lồng ngực”. Nó cười và cho tôi là “vẽ chuyện”. Bây giờ thì tôi đã về với làng. Làng tôi như nửa vành trăng nằm trong khúc vòng cung của con đê ngăn nước lũ. Ngước mặt lên là nhìn thấy núi. Núi cao vời vợi. Cúi xuống thấp hơn là gặp được sông. Sông trôi lờ lững. Quay phải, quay trái là đồng ruộng trải dài. Mưa. Mưa vũ vã. Mưa trắng trời. Làng ngập nước trong ánh chớp lòa và tiếng sấm sét rền vang. Đồng nước trắng mênh mông. Tiếng ếch nhái, ễnh ương kêu ộp oạp. Và côn trùng eo ỉ. Đồng quê đang tấu lên bản nhạc buồn buồn. Ngày đầu tiên tôi trở về làng là như vậy. Bà nội cứ thở ngắn thở dài, cẩm rẩm. Bà nói với mọi người mà như nói một mình. “Giời với chả đất. Lúa má ngập sạch mất. Của ăn đến miệng rồi ông giời cũng không tha”. Rồi bà lọ mọ ngồi giã trầu bằng chiếc cối đồng bé tý. Mùi trầu cay cay quyện vôi thấy nồng nồng ấm sực cả gian nhà. Bỏ miếng trầu giã nát tươm vào mồm bà lại bảo “Ngày xưa thế này cầm chắc mất mùa”. Mẹ tôi cười giả lả “Bà lại ngày xưa rồi. Con cháu nghe mãi”. Bà kể lể thôi là kể lể. Đời bà cực lắm. Đi làm dâu từ năm mười ba tuổi. Lỡ đánh cái rắm mà xấu hổ bỏ về nhà mấy năm giời. Ai xuống gọi cũng trốn biệt. Đến khi mẹ chồng xuống nịnh nọt mãi mới chịu về nhà chồng. Lúc đầu vợ chồng mấy tháng không dám nhìn mặt nhau. Đến đận ông đi bộ đội mới dám gần gũi, rồi ông lại đi biền biệt suốt. Bà đẻ bố tôi mấy tháng, ông mới được về. Ở nhà chơi với con vài ngày ông lại phải đi, nghe đâu lần này ông theo đơn vị đi xa lắm. Bà tôi kể lại rằng, lúc ấy mới khoảng canh ba ông bấm vào tay bà rồi hai người trở dậy. Bà khẽ đặt thằng bé là bố tôi xuống ổ rơm cho mẹ chồng rồi khoác tay nải lách cửa đi theo ông ra tận đường lớn. Lúc xuống đò ông ngoái lại dặn “Nhà ở lại trông nom mẹ già và con nhỏ, tôi đi đợt này có dễ...”. Rồi bà có mang cô Tâm ba tháng thì được tin ông hy sinh. Bà phiền muộn nên cô Tâm đẻ ra ốm đau, sài đẹn mãi. Bà khổ quá. Lấy chồng chưa biết nhớ, biết thương thì đã thành góa bụa. Bố mẹ tôi thương bà lắm. Tôi lớn lên đã quen nếp nghĩ bà nội tôi hiền từ nhân hậu nhất làng. Tôi khôn dần bằng lời ru bà cất lên với điệu ngân ai muôn thuở. Mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Ngoài hiên nhà những giọt nước nhỏ tý tách xuống máng tôn đều đều như gõ nhịp. Tôi không biết mình đã thiếp đi từ lúc nào. Gần sáng tỉnh dậy trăng hạ tuần xuyên qua cửa sổ chiếu vào giường lành lạnh. Bố đã dậy từ lúc nào. Bố vừa hút xong điếu thuốc lào đang ngồi nhả khói. “Sao bố dậy sớm thế”. “Mày ngủ nữa đi. Con nước to lắm. Tao phải ra đê xem thế nào”. “Bố cho con đi với”. Tôi vùng dậy với bộ quân phục mặc vào người rồi bước theo bố. Ba năm trước lúc chưa đi bộ đội tôi cũng đã có những buổi đi canh đê chống lụt như thế này. Đêm nghe nước thon thót trở mình. Thấy mênh mang, mênh mang một nỗi buồn lo về vụ tới. Rồi những người đàn bà khi xúc gạo nấu cơm, họ không quên bốc lại một nắm. Người nông dân lúc nào cũng lo mùa màng thất bát. Điếm canh đê hôm ấy bọn con gái mang theo cả khoai lang luộc và ngô rang. Con trai chúng tôi chúi đầu vào đám tú lơ khơ đánh tiến lên. Ăn uống chán, chúng tôi lôi tiếu lâm ra kể cho nhau nghe. Hôm ấy tôi đã kể rằng “Có một đôi nam nữ yêu nhau, họ đưa nhau ra đồng lúa ngồi hóng mát. Ngồi mãi mà chẳng ai nói được câu nào. Anh con trai bảo Lúa năm nay tốt nhỉ? Người con gái Phân mà lị. Người con trai Trăng hôm nay sáng nhỉ. Người con gái Rằm mà lị. Rồi cuối cùng người con trai bảo Hôm nay em xinh thế! Người con gái trả lời Yêu mà lị. Cả lũ cười ngiêng ngả. Anh Luyện xã đội trưởng quát “Chúng mày đi gác đê hay ra đây cười”. Rồi chính anh cũng lăn ra cười và bảo tôi “Thằng này khá”. Những đứa con gái ngày ấy bây giờ đã lấy chồng. Mấy chục năm qua rồi, quê tôi hầu như không có gì thay đổi. Cuộc sống có thể khác đi, giàu có hơn; nhưng ao bèo, hồ sen, ruộng lúa thì vẫn vậy. Bố con tôi ra đến đầu đê đã nghe tiếng máy bơm chạy xình xịch. Ngoài sông con nước xuống dần. Trong điếm canh đê mọi người đã về ngủ hết. Khu trạm bơm mười hai vòi nước phun trắng xóa. Bố tôi nói oang oang với mấy anh trạm bơm “Ấy chà! Định nghiêng đồng đổ nước ra sông hả?”. Chợt giọng ai đó với ra “Chào chủ nhiệm! Nước xuống nhanh lắm chỉ chiều mai cây lúa lại bình yên!”. Bố vừa đi vừa lẩm nhẩm “Nước rút cũng mau, năm nay mưa không kéo dài nên cũng đỡ”. Mờ sáng bố con tôi mới về đến rìa làng. Làng quê vẫn còn yên tĩnh. Quang cảnh như vừa hiện ra trong trẻo và mát mẻ. Phía chân trời hừng đông đã ưng ửng. Trăng lặn từ lúc nào. Trên trời một vì sao mai nhấp nháy. Đầu kia tốp người ra trông nước đang nói cười hể hả. Qua xóm Trại. Dưới nếp nhà thấp sau lùm tre, có bóng người trong ngõ đi ra. Bố tôi lên tiếng - Cô Hà đấy à? Đi đâu mà gồng gánh sớm thế? - Bố con bác đi ngó nước về à? Em đi bán mấy con lợn giống. Đói kém đến nơi rồi! - Thôi mang về đi. Mai sang tôi, lấy mấy thúng thóc cho các cháu ăn tạm. Lúa đã chắc đòng rồi. Cô ngập ngừng rồi quay lại. Dáng tảo tần khuất dần sau lùm tre. Con lũ sớm qua nhanh, dòng sông quê tôi lại hiền hòa êm ả. Trời thu cao lồng lộng heo may về sớm. Mấy con đò sang sông sớm chiều tấp nập. Làng tôi rổn rang bước vào mùa cưới. Hôm nay đám cưới chị Hòa. Bố tôi sang làm thịt lợn từ sáng sớm. Tôi sang đến nơi thấy các bà, các cô đang lau bát đĩa. Ngoài sân mấy người gọt bí, thái măng tấp nập. Trong nhà, chị Hòa đang gấp áo gối cưới sai người mang đến nhà trai. Quê tôi con gái lấy chồng có viên mãn hay không cứ nhìn vào gối cưới thì thấy. Họ tự tay mua vải rồi nhờ vẽ, tự thêu, tự móc và cặm cụi nắn nót như gửi gắm cả đời con gái vào đường kim mũi chỉ. Chị Hòa hỏi tôi, đầu vẫn cắm xuống cái áo gối - Mày ra quân rồi à? Có định đi đâu không hay ở lại quê? - Thì em đang đứng trước mặt chị đây. - Tao hỏi sau này cơ. - Em ăn mòn bát đĩa thiên hạ rồi không ở đâu bằng quê mình. - Tao biết vậy mà. - Thế chị đã lát gạch đường làng chưa? Không trả lời tôi, chị Hòa cười tủm tỉm. Con gái quê tôi dù lấy chồng ở làng hay lấy chồng thiên hạ, mỗi người đều lát một trăm viên gạch xuống đường để đánh dấu ngày chấm dứt thời con gái. Tục lệ ấy có từ lâu lắm rồi. Bà tôi ngày xưa cũng thế, đến lúc các chị gái tôi cũng vậy. Chẳng hiểu con đường ấy được bắt đầu từ đâu và tục lệ ấy đã bắt đầu từ bao giờ, chỉ biết rằng đường đi khắp ngõ xóm vươn dài ra mãi một màu gạch đỏ nâu bóng. Quê tôi trai gái ít bỏ làng ra đi. Ngoài việc đồng áng, con gái quanh năm cắm cúi làm hàng thêu xuất khẩu nên bàn tay ai cũng nuột nà nhưng dáng ngồi thì gù hẳn xuống. Đàn ông có nghề đóng gạch xây nhà và bán gạch cho thiên hạ. Làng tôi bao đời sinh ra những cô thôn nữ đẹp dịu dàng như dải lụa. Các cụ bảo ngày xưa mỗi năm khi còn là Tổng cũ làng đều có con gái đẹp để tiến vào cung Vua. Rồi các cụ lại bảo ngày xưa khúc sông Hoàng Long uốn quanh làng chỗ bãi cát bây giờ, những hôm trở trời thường thấy cả bầy tiên nữ bay xuống tắm. Bọn trẻ chúng tôi dù biết là huyền thoại mà vẫn mong có hôm trở trời thật để được nhìn tận mắt bầy tiên tắm nhưng chả thấy bao giờ. Chuyện tiên tắm thì không biết có hay không, nhưng dòng sông quê tôi thì lạ thật. Lúc sáng sớm mặt nước loang loáng khói bốc mù mịt. Buổi trưa khi có ánh nắng chiếu xuống, mặt nước tím sẫm lại. Rồi chiều về dòng nước lại trong veo mềm như dải lụa xanh. Nắng hanh vàng, gió hây hẩy. Heo may về hơi lạnh đã thấy săn da. Vắt qua cánh đồng xa tít tắp trước làng là con đường lớn. Hai bên đường các trai làng trồng cây lưu niệm trước lúc lên đường dù là đi học hay đi bộ đội. Cây xà cừ tôi trồng cách đây ba năm về trước, bây giờ đã vươn cao, cành lá um tùm, mướt mát xanh, tươi tốt. Dưới vệ đường mọc đầy cỏ may. Cỏ may trên bờ thường mọc cùng thời với lúa. Khi đồng lúa chắc đòng thì cỏ may xanh mướt. Tôi thường hay lang thang trên cánh đồng. Sương thu lãng đãng trôi qua như khoác lên mình nó một tấm áo bàng bạc mờ mờ, ảo ảo. Những khi sương mù lãng đãng trôi trên đường. Bước chân bỗng nhẹ tênh như đưa tôi đến một miền mơ ước mới. Rồi nắng thu trải dài trên cánh đồng, rắc lên hoa cỏ may như những giọt sương lấp lánh. Phía cuối kia nắng vàng yếu dần. Hoàng hôn thu hình như buông chậm. Tiếng chuông chùa bên xóm đạo thánh thót ngân nga. Tôi đang đến với Mỵ. Con đường này Mỵ đã kể cho tôi nghe câu chuyện đàn ông, đàn bà trên trái đất. Dù đã biết từ lâu rồi nhưng câu chuyện em kể tôi nghe như mới lạ, ngày xưa thánh ALa chỉ sinh ra trên trái đất một người đàn ông. Ba mươi vạn năm sau người đàn ông đã tìm gặp thánh ALa tâu rằng “Tâu đức thánh tối cao. Con cô đơn quá không sao sống được”. Người cứ về đi và sẽ không còn cô đơn nữa”. Và trái đất có thêm một người đàn bà. Ba mươi vạn năm nữa người đàn ông lại tìm gặp thánh ALa “Lạy đức thánh cao cả. Nó lắm mồm quá con không thể sống nổi”. “Người cứ về đi sẽ không còn ai lắm mồm nữa đâu”. Người đàn ông trở về trái đất thấy người đàn bà đã biến mất và ông ta cho đó là điều thật may mắn. Nhưng một lần nữa sau ba mươi vạn năm, người đàn ông lại tìm gặp thánh ALa “Thôi lắm mồm cũng được. Xin đức thánh ALa cao cả. Hãy cho người ấy về với con”. Rồi phải mất hàng triệu năm sau nữa và thêm rất nhiều lần trả giá người đàn ông và người đàn bà mới tìm được tiếng nói chung… Có lúc tôi muốn nghĩ người đàn bà đó là Mỵ, có lúc lại không. Tôi yêu em nhưng gia đình tôi băn khoăn vì em là con gái theo đạo, em là con của Chúa. Cả cánh đồng dưới chân tôi mênh mang ngân lên một khúc hát. Bộ hồ sơ xin việc của tôi nó đang nằm ở đâu? Tôi đã quên tự lúc nào. Làn gió heo may se se dạo qua cánh đồng bát ngát. Ánh trăng lên cao buồn cô liêu nửa dỗi hờn, nửa như chờ đợi. Sắp đến giữa thu rồi. Ánh trăng vằng vặc rạng rỡ tỏa khắp cánh đồng, tôi lâng lâng lăn người ra cỏ. Tôi dang tay ra ôm cả bầu trời. Cỏ dưới người tôi ấm mềm như nhung. Đồng lúa rầm rì nghe như tiếng hát xa xôi. Tiếng hát hiến dâng cho con người những phút giây vui vẻ nhất. Xung quanh tôi nồng nàn mùi đất ẩm. Đất sinh ra con người, con người nặng lòng với đất. Mỵ ngớ ngẩn hỏi tôi rằng “Mai sau đất khô cằn hết chất, con người sẽ sống bằng gì?”. - “Lòng đất sẽ mở ra đến vô tận và vô cùng Mỵ ạ”. Ngoài sân đình rộn rã tiếng cười. Tiếng trống ếch thì thùng mời gọi. Vầng trăng như tròn hơn, sáng hơn. Mỵ nắm chặt tay tôi chạy ra phía ấy. Điệu múa sạp gọi tuổi thơ của chúng tôi về thổn thức. Tôi bảo - Mỵ còn nhớ ngày xưa lúc nhảy sạp, Huy hay hát xuyên tạc rồi bị mắng không? - Bây giờ Huy hát lại đi. Mỵ cười rồi bắt tôi hát lại “Bà già bà chê tôi già. Bà già bà chê tôi đen. Tôi đen tôi lấy người đen. Tôi đen lấy chi con bà...”. Ngày ấy lũ trẻ chúng tôi đã chơi đùa thâu đêm cùng gió, cùng mây, cùng trăng… Còn bây giờ tôi đang đứng đây. Tôi và em giữa mênh mông trăng tỏa. Trăng rực rỡ, gió mát rượi cất tiếng gọi thu nghe dịu dàng như lời con gái. Từng đôi nam nữ đan tay vào nhau bước rộn ràng theo nhịp gõ “Xòn xòn xòn đô xòn. Xòn xòn xòn đô rê. Rê rê rê mí xì rê. Rê rê mí rê đô là”. Những bước chân gái trai uyển chuyển. Tôi nắm chặt tay em, bàn tay mền mại của em trong tay tôi có chút dịu dàng của mùa thu, rợp mát của mùa hè và nồng nàn của mùa xuân. Trăng khuya treo tít trên trời tôi muốn đêm thu dài ra mãi. Trời đừng sáng trăng cứ thế này lung linh và huyền ảo. Mỵ lại hỏi tôi câu hỏi ngày xưa em chưa biết. Chân trời bắt đầu từ chỗ nào? Chân trời bắt đầu từ nơi con người sinh ra. Một buổi chiều cuối thu. Bố tôi đi thăm đồng. Cả cánh đồng phủ sương bàng bạc. Phía xa kia là chân trời rực hồng ráng đỏ. Bóng bố tôi ẩn hiện dưới hàng cây, bố cầm trên tay nắm lúa vàng hây hẩy. Nét lo toan thường ngày trên mặt bố giãn ra. Đâu đó tiếng gọi í ới lao xao trong ngõ xóm. Lòng thấy vui vui như một điều gì quan trọng lắm vừa mới định hình. À thì ra là hương lúa. Cái mùi ngai ngái, ngòn ngọt quấn quýt bước chân người về. Chiều thu suộm lại như một dải vàng óng ánh trên cánh đồng. Trong hoàng hôn cỏ may hai bên đường hung hung thẫm lại. Giọt nắng cuối ngày lẫn vào mắt lúa. Cả cánh đồng rì rào đuổi nhau theo gió xô bờ như những lớp sóng vàng xô vào bờ. Tôi bước đi mê man giữa những lớp lúa hai sương một nắng của mẹ. Bắt chước bà nội tôi rứt một cọng rơm vàng đưa lên môi nhấm nháp thấy vị ngọt tê tê đầu lưỡi hương thơm ngan ngát dâng lên nghe hồn mình lắng đọng. Buổi chiều bà nội giục mẹ mang liềm, hái ra lau lại. Rồi bà ngồi nhai trầu, nhìn ánh mắt hấp háy của người già tôi biết bà đang vui chờ vụ lúa mới, mặc dù lúa cũ còn đầy cả cót trong nhà. Bà nhắc mẹ hái cho bà một nắm lá thơm đủ loại Mần chầu, ngải cứu, lá tre, lá sả… Mẹ thả tất cả lá thơm vào nồi to đun nước để bà tắm gội. Bà lên giường nằm và bà ngủ mãi. Bà nội tôi ra đi như vậy. Thanh thản nhẹ nhàng như đi vào cõi Phật. Đám tang bà, bố tôi mặc áo xô, đầu đội nùn rơm, thắt dây chuối ngang thắt lưng, chống gậy đi giật lùi sau linh cữu. Mẹ tôi, cô Tâm khóc vật vã. Các chị gái tôi khóc ròng ròng. Lúc đưa bà ra đồng mặt trời đã lên cao, nắng chan hòa tỏa khắp thôn xóm, cánh đồng. Sau quan tài có mặt trận tổ quốc xã, ban quản trị HTX. Rất đông các cụ ông, cụ bà và xóm làng đưa tiễn. Các cụ già bảo “Cụ ăn ở phúc đức lắm nên lúc theo tổ tiên mới nhẹ nhàng như vậy”. Tôi không tin hẳn bà nội tôi đã mất vĩnh viễn. Đứng bên linh cữu bà tôi lại như thấy mình bay lên. Tôi bay vào một miền cổ tích, ở đấy bà tôi đang kể chuyện “Giếng mắt rồng”, truyện “Mẹ lúa”... Tôi không khóc mà nước mắt cứ trào ra thành một dòng lăn dài xuống cổ áo bộ đội bạc... Người ta đặt bà trong nghĩa địa của làng. Mọi người chen nhau vào ném xuống huyệt những hòn đất ướt. Ai đó ấn vào tay cô Tâm một nắm đất, cô thả nhẹ xuống rồi lại dụi dặm khóc “Mẹ ơi từ giờ con biết tìm mẹ ở đâu...” Trên mộ bà có mấy vòng hoa, một bát cơm thật đầy cắm đôi đũa và quả trứng gà luộc. Sáng hôm sau mọi người làm cơm cúng ba ngày cho bà. Nhìn mọi người vào ra tấp nập tôi cứ tưởng tượng thấy dáng bà lom khom lọ mọ ở góc nào đó. Tối ấy, mọi người về hết mẹ tôi bảo bây giờ chắc bà gặp được ông rồi. Bố vẫn gục đầu xuống hai gối giọng thì thào nghe thật xa xôi “Thương bà quá, cả một đời lo cho con cháu”. Ở nhà vài ngày cô Tâm tôi lại về Hà Nội, trước khi đi cô thắp hương rồi gục xuống ban thờ bà nức nở “Hi...Hi... mẹ ơi nếu như mọi ngày mà con chuẩn bị đi thế này là mẹ săm sắm lo cho con rồi đây mẹ ơi... Ư..ư”. Bố tôi dắt chiếc xe cup 81 ra sân rồi dặn - Mày đèo cô ra bến đi đứng cho cẩn thận. Quay sang cô bố tôi nhẹ giọng - Thôi em ạ đằng nào thì mẹ cũng đi rồi. Anh em đùm bọc nhau. Mẹ tôi quay vào lau nước mắt. Cảnh nhà trống vắng quá. Tất cả lại cuốn đi. Công việc nhà quê đang mùa gặt hái. Bố lại vắng nhà luôn lúc ở ngoài đồng, khi lên ủy ban, hôm lại xuống huyện họp. Mẹ con tôi tất bật mùa màng. Trời xầm xì nặng trịch cũng là lúc những gánh lúa cuối cùng mang về nhà gọn ghẽ. Tôi bước trên đồng. Phía xa kia là chân trời nhuốm một màu vàng xuộm. Trên cao hơn nữa mây cuồn cuộn như một núi bông xốp xộp. Chân trời phía ấy sương xuống lạnh hơn. Một nỗi buồn da diết choán ngập lòng tôi. Cả cánh đồng đã gặt hết còn trơ gốc rạ. Mùi nồng nàn đằm thắm thiết tha. Đấy là mùi hương quyến rũ nhất của đồng quê ban tặng con người. Cơn gió chiều cuối thu xào xạc. Mấy chiếc lá vàng bay bập bênh như nỗi chia xa của mùa thu khẽ chao nghiêng rồi rơi luôn về cội. Trên ngọn tre mấy cánh cò chấp chới, dập dờn, dập dờn trốn vào thinh không cao ngút ngát. Xa xa tiếng sáo ngập trời huyền hoặc. Không gian chứa chan thứ tình cảm dịu dàng bí ẩn. Diều nhà ai ở tít trên cao chui vào giữa những đám mây bồng bềnh, chỉ còn tiếng sáo vẫn ngân nga, da diết. Đó là những khúc hát của đồng quê thả lên nền trời.

nội dung bài tiếng đồng quê