đầu rồng thời lý

Nghi phạm Nguyễn Hoàng Giang (tự Giang "đầu rồng") ở Đồng Tháp vừa bị cơ quan CSĐT bắt giữ vì có hành vi bắt giữ người trái pháp luật. Ngày 20/7, Công an tỉnh Đồng Tháp cho biết, cơ quan CSĐT vừa bắt tạm giam Nguyễn Hoàng Giang (tự Giang 'đầu rồng, 42 tuổi, ngụ huyện Tháp Mười) và 9 người khác để điều tra hành vi "Bắt giữ người trái pháp luật". Rồng mình trơn, toàn thân uốn khúc, uyển chuyển như một ngọn lửa. Đây là hình tượng nghệ thuật độc đáo, phổ biến thời Lý. => Phong cách nghệ thuật đa dạng, độc đáo và linh hoạt của nhân dân ta thời Lý đã đánh dấu sự ra đời của một nền văn hoá riêng biệt của dân tộc - văn hoá Thăng Long. ND chính Bộ tượng sứ trang trí 2 con heo Bát Tràng màu nâu SG-TT15. Được xếp hạng 4.50 5 sao. 200.000 VND. Đã bán 53. Tên. Tượng Đầu Rồng. Chiều cao. 25.5 cm. Mã sản phẩm. Theo đó, UBND huyện đã chỉ đạo Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng và Công trình công cộng, UBND các xã trên địa bàn tiến hành kiểm tra, rà soát hành lang bảo vệ hồ, đập, công trình thủy lợi được giao quản lý theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền; xử lý dứt điểm khi phát hiện các hành vi vi phạm. Phiên 18/10, tự doanh công ty chứng khoán mua ròng 75.1 tỷ đồng, kết thúc chuỗi bán ròng liên tiếp. Tuy vậy, lực mua ròng ở từng mã không quá mạnh. VPB, FPT, MIG, VHM, ACB là những mã được mua ròng mạnh nhất với giá trị mua ròng từ 7 - 12 tỷ đồng. Welche Singlebörse Ist Für Frauen Kostenlos. Có không ít ý kiến cho rằng con rồng thời Lý mang ảnh hưởng từ nghệ thuật tạo hình của Champa, thậm chí có kiểu suy diễn rất trái khoáy là trông giống con Naga của Thái Lan bây giờ mà suy ra là ảnh hưởng từ Champa. Vậy sự thật thế nào? Rồng ở các nước Đông Nam Á Thứ nhất, trong văn hóa các nước Đông Nam Á khác không có rồng, từ Champa, Khmer cho đến Thái Lan, Miến Điện, ở những nước này ban đầu chỉ có 2 hình tượng gần với rồng Đông Á nhất là Naga và Makara. Mặc dù vậy hình ảnh 2 con linh thú này vào cùng thời ký rất khác với con rồng Lý. Con Naga là hình ảnh rắn hổ mang nhiều đầu, có mang lớn, răng vuông đều hoặc không há miệng, du nhập hình tượng makara của Ấn Độ, con makara của Khmer hay Champa cũng thường được thể hiện phần đầu lớn, thân ngắn, có vòi voi, có mào và thường thể hiện với nhiều đồ án khác nhau. Mãi sau này từ thế kỷ 13-14, khi người Thái di chuyển xuống khu vực Đông Nam Á với sức ép từ các cuộc xâm lăng của Mông Cổ và sau đó là sự ảnh hưởng mạnh hơn từ nhà Minh và các nhóm người Hoa minh hương chạy khỏi nhà Thanh, hình tượng con Naga và Makara mới biến chuyển nhiều hơn và dần rồng hóa. Con Naga dạng 1 đầu 1 thân trở nên phổ biến, cái đầu nó dần giống đầu rồng, lông lá, có nhiều bờm, râu cằm, cái màng rắn nhỏ lại thậm chí biến mất hẳn, miệng há rộng với hàm răng nhọn hoắt, trên đầu mọc lên cái sừng nhọn hoắt con Makara cũng có sự biến chuyển gần như vậy. Trong các linh thú của Thái Lan hay Myanmar xuất hiện rất nhiều hình tượng linh thú mang ảnh hưởng của TQ kết hợp với bản địa. Tuy nhiên về cơ bản chúng vẫn không phải là con rồng như các nước Đông Á. Nếu so sánh con Naga vào thời kỳ muộn này với con rồng Lý vẫn khác nhau nhiều, điều này sẽ nói ở phần sau. Naga Thái Lan Makara ngậm Naga – Chiangmai – Thái Lan Makara ngậm Naga – Champa Tk11-12 Motif Makara ngậm Naga – Khmer cổ Source Makara trong tạo hình ở Ấn Độ. Nguồn Makara trong văn hóa Ấn Độ Thứ hai, hình tượng con rồng thời Lý đã thai nghén từ thời Đinh – Tiền Lê chứ không cần phải chờ tới lúc nhà Lý bắt tù nhân Champa để làm việc, điều mà không được ghi lại trong sử sách để con cháu suy diễn rằng hình tượng rồng Lý có bàn tay của nghệ nhân Champa. Ngay cả nhiều hình tượng khác vốn được suy diễn là ảnh hưởng của Champa do nhiều người chỉ biết trên thế giới thời xưa có 3 nước là Đại Viêt, Trung Quốc, Champa mà bảo ảnh hưởng từ TQ thì lại dỗi hờn thôi thì cho là ảnh hưởng từ Champa đi. Quay trở lại với hình tượng con rồng Lý và những ngộ nhận cơ bản và sự thật Rồng thời Lý thân trơn không có vảy – Sai. Từ thời Ngô, Đinh, Tiền Lê rồng đã có vảy. Con rồng có thể là hình tượng “thần thánh hóa” từ con cá sấu hay con rắn hay con cá chép, dù là từ con gì đi nữa thì nó đều có vảy, ở những hình rồng thời Lý lớn như đầu rồng trên mái, rồng trên thành bậc, ở cột đá chùa Dạm đều thể hiện hình ảnh vảy rồng rõ ràng. Có thể hiểu việc để thân trơn trên nhiều hiện vật khác là 1 sự giản lược, hoặc đôi khi là phần vảy đã bị bào mòn. Trên các hình tượng rồng lớn hơn, có nhiều “đất múa võ hơn” thì rồng Lý không chỉ có vảy mà vảy còn được “biểu diễn” một cách rất chi tiết, cầu kỳ, nghệ thuật hơn hẳn các con rồng khác. Rồng thời Lý không có sừng? Sai. Cái hình mà một số người gọi là biểu tượng của mưa gió sấm sét chính là sừng của nó việc gọi là biểu tượng mưa gió sấm sét vốn hoàn toàn không có cơ sở mà chỉ là một cách lý giải xuông thiếu sự quan sát tỉ mỉ, việc thể hiện chi tiết này trên các bức phù điêu thường gây nhầm lẫn vì sự giản lược của nó cũng như làm ta cảm giác chỉ có 1 cái trên đầu nó, tuy nhiên khi xem xét trên hiện vật dạng tượng tròn thì nó nằm ở 2 bên đầu, vị trí của cái sừng, trong 1 số hình tượng điêu khắc khác nó cũng được thể hiện rõ ràng là cái sừng. Cái “loằng ngoằng” phía trên miệng con rồng là mào lửa – Sai. Con rồng trong văn hóa Đông Á nói chung và Việt Nam nói riêng đều là rồng nước, là đại diện cho mưa gió, sông nước, biển cả. Trong Tây Du Ký, Long Vương là vị thần của biển cả, không ít lần Tôn Ngộ Không phải nhờ Long Vương làm mưa. Trong nghệ thuật kiến trúc Việt Nam, hình tượng xi vẫn với cái đầu rồng đặt trên bờ nóc như vị thần trông coi công trình khỏi hỏa hoạn. Như vậy nếu bảo con rồng Lý có cái mào lửa không khác gì bảo nó đi đốt nhà. Vậy thì cái “mào lửa” ấy thực sự là cái gì? Đấy chính là điểm chung của các con rồng Đông Á cùng thời kỳ ấy và còn thấy nhiều về sau. Đó là cái vòi. Cái vòi rồng. Ắt hẳn không ít người từng nghe nói đến lốc xoáy còn gọi là vòi rồng nhưng liệu có mấy ai biết con rồng từng có vòi? Những hình tượng rồng này đều có xuất xứ ảnh hưởng từ hình tượng con Makara trong Phật giáo Ấn Độ. Từ văn hóa Hindu và Phật giáo Ấn Độ… Loài thú huyền thoại makara trong văn hóa Ấn Độ chuyên sống ở dưới nước. Ban sơ, makara thường có hình đầu thú đầu voi, đầu cá sấu,…, phần sau là đuôi cá, cũng có khi là đuôi công trống2. Makara là vật cưỡi của Ganga – chúa tể sông Hằng và Varuna – chúa tể biển cả. Makara trong tiếng Sanscrit nghĩa là một loài rồng biển, dịch sang tiếng Anh là “sea-dragon”, các tiếng trong nhánh Hán – Tạng gọi là “thủy tinh”3, người Việt hiện nay thường gọi là “thủy quái”, còn trong tiếng Hindu thì có nghĩa là con cá sấu. Trong các bức phù điêu ở nhiều đền thờ Hindu giáo, hàng đoàn makara nối đuôi nhau chạy như dòng chảy miên viễn của sông Hằng. Nó là biểu tượng của con sông này, và rộng hơn là biểu tượng của nước. Trích Trần Trọng Dương Việc thờ thần Makara đã được truyền từ Hindu giáo vào Phật giáo Ấn Độ. Trong ý nghĩa biểu trưng của phái Mật tông, đây là con vật cưỡi của Mantra Vam, tương ứng với yếu tố nước, là biểu tượng của những cơn mưa lành. …đến xi vẫn Trung Hoa Cùng với sự truyền bá Phật giáo, makara đã xuất hiện ở khắp Đông Nam Á và Đông Á. Makara vào Trung Hoa quãng đời nhà Hán, được dân gian hóa bằng các huyền thoại, trước khi đi vào cung đình. Sách Thái Bình ngự lãm thuật lại sự tích như sau Vào đời Hán, sau khi điện Bách Lương bị hỏa hoạn, có người thầy mo đất Việt nói rằng ngoài biển có con ngư cù rồng cá, đuôi giống đuôi chim xi, thúc sóng mà làm mưa’, bèn tạc tượng con thú ấy để yểm hỏa tai. Hán Vũ đế là người chính thức đưa loài linh thần của Phật giáo này vào văn hóa cung đình bằng việc đắp hình trên các nóc điện, coi đó như vị thần trừ hỏa hoạn, và định danh cho nó là xi vẫn. Hình ảnh đuôi công trống được thay thế bằng đuôi chim cú chim xi. Người Trung Quốc cũng nhanh chóng Hoa hóa nó theo nhiều cách khác nhau tên gọi, hình dáng…, và hầu như quên đi cái tên Ấn Độ cũng như nguồn gốc Phật giáo của nó. Trần Trọng Dương Vật khảo cổ sớm nhất hiện nay về con xi vẫn được khắc vào năm 134. Từ Hán đến Đường, xi vẫn giữ hình dạng nguyên thủy – đầu rồng, đuôi chim xi. Đến thời Nam Bắc triều, xi vẫn thường được đắp cùng các vân mây ở Long Môn. Từ vãn Đường, đầu rồng thú với miệng há rộng được nhấn mạnh, còn đuôi được cách điệu thành dạng khí mây bốc lên trời. Từ đời Tống Minh trở về sau, xi vẫn được Hoa hóa một lần nữa trong huyền thoại long sinh cửu tử. Kể từ đây, hình tượng con xi vẫn mang dáng dấp rồng đầu, thân, đuôi ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Có khi con xi vẫn – rồng này còn được tạc cùng một thanh kiếm hay kích – biểu tượng của sấm sét và mưa gió như là một điệp thức biểu tượng về trừ hỏa-làm mưa, hay cao hơn nữa là biểu tượng uy quyền – trừ tà – trừ ma. Như vậy, xi vẫn là một con vật huyền thoại được dùng trang trí trên nóc, mái các công trình kiến trúc đời cổ, với ý nghĩa tượng trưng cho việc yểm trừ hỏa tai. Việc xi vẫn thường được đắp ở hai bên đầu kìm hay góc điện, nơi nước mưa trôi xuống, hẳn có mục đích thực dụng bởi nó giúp tránh thấm dột. Trần Trọng Dương Rồng thời Lý Tạo hình rồng trong văn hóa Á Đông xưa Như vậy hình tượng con rồng nước Đông Á ban đầu đã bắt đầu xu hướng tiếp nhận hình tượng con Makara được thể hiện bởi cái đầu có vòi và ngà như con voi. Muộn nhất từ thời Đường đã thấy hình tượng đầu rồng có vòi và ngà. Cái vòi thường được thể hiện dẹt có nhiều khía ngang, hoặc tròn như vòi voi. Tuy nhiên cái vòi của con rồng TQ dưới thời Đường, Tống hay Tây Hạ thường ngắn, đến thời Nguyên thì lại dài hẳn ra do ảnh hưởng từ Tây Tạng. Hình tượng con rồng có vòi dài là Tây Tạng, Đại Lý và dài nhất là con rồng thời Lý của Việt Nam. Mình xin được phép lộng ngôn mà nói rằng con rồng Lý là đỉnh cao trong nghệ thuật tạo hình rồng Đông Á với những quy chuẩn rõ ràng rành mạch, không chỉ có cái vòi dài nhất mà phần thân dài nhất, nhịp nhàng uyển chuyển mà vẫn đầy uy lực. Con rồng Lý còn thể hiện rõ ràng tính chất Phật Giáo của nó với mô típ phổ biến là rồng cuộn trong lá đề. Ngay cả phần vòi của nó cũng được cuộn trong hình tượng lá đề, điều này có thể nhận thấy khi so sánh các hình tượng lá đề và phần bao quanh vòi con rồng Lý.\ Ngoài ra còn 1 số điểm tương đồng giữa rồng thời Lý với các con rồng Đông Á khác cùng thời kỳ như có 4 chân, mỗi chân có 3-5 móng, có bờm dài, râu dài, chân mày cuộn sóng hình số 3… Tuy nhiên, nếu ở nước khác, con rồng thường được thể hiện phóng khoáng, có nhiều hình dạng khác nhau cùng lúc thì con rồng Lý lại mẫu mực, đồng nhất hơn, thể hiện tính trang trọng uy quyền của nó. Sai lầm cơ bản trong nghiên cứu tìm hiểu ở VN là sự so sánh không đồng đại, và so sánh tiểu tiết, không nhìn tổng quát, tổng hợp dẫn đến nhiều sai lầm. Như nhìn cái mào hay cái sừng của con naga Thái Lan mãi sau này giống như cái vòi của con rồng Lý và vội vàng đưa đến kết luận là ảnh hưởng từ Champa do tù binh Champa tạo nên?!? Mình xin khẳng định theo ý kiến của mình, con rồng Việt Nam thời Lý cũng như các thời khác sau này hay chính nền văn hóa VN nằm trên dòng chảy của nền văn hóa văn minh Đông Á, nhưng những sản phẩm là do người Việt tạo ra, mang những đường nét từ bàn tay người Việt và dấu ấn của người Việt. Nếu như các hình tượng kinnari/kinnara trong văn hóa Champa thể hiện khuôn mặt của người Champa như môi dày, mũi to, bè, khuôn mặt thon, hốc mắt hơi sâu, là khuôn mặt của những người phía nam thì kalavinka tương tự kinnari trong hình tượng tạo hình thời Lý Trần lại có khuôn mặt bầu bĩnh, môi mỏng, mũi nhỏ hơn, mang khuôn mặt người Việt, thể hiện cái quan niệm thẩm mỹ của người Việt bấy giờ. Một số hình ảnh hiện vật về rồng Việt Rồng thời Lý Rồng thời Lý – cột đá chùa Dạm Rồng Lý ở chùa Bối Khê với dạng sừng dài dễ nhận diện. Các hình ảnh khác dạng phù điêu với sừng hình omega thường phải quan sát kỹ phần chân sừng cắm vào đầu mới nhận ra còn ở dạng tượng tròn thì rõ ràng. Đấu củng đỡ mái tháp Rồng Đinh – Tiền Lê Theo Nguyễn Duy, source Post Views 4,363 Đầu rồng thời Lý rất sinh động, có Mào, mũi và bờm được cấu tạo rất sinh động bằng những đường nét rất tự nhiên. Mào chùm lấy toàn bộ môi trên và quyện với răng nanh xoán hình đám mây bồng bềnh đang b Domain Liên kết Bài viết liên quan đầu rồng thời lý ĐẦU RỒNG THỜI LÝ* Cổ vật Việt Nam Đầu rồng gốm, đất nung là sản phẩm độc đáo bậc nhất trong kiến trúc và gốm cung đình thời Lý - Trần. Chiếc đầu rồng khổng lồ bằng đất nung phát hiện trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long, kinh đô R Chi Tiết Tượng đầu rồng thời Lý Rồng là hình tượng đặc biệt trong nghệ thuật truyền thống Việt bởi linh vật này là một trong những biểu tượng văn hóa quan trọng nhất gắn liền với nguồn gốc ra đời của dân tộc. Có thể nói, hình tượng Xem thêm Chi Tiết MÔ TẢ SẢN PHẨM Trong các hiện vật tìm thấy ở Hoàng Thành Thăng Long nổi bật một số hình tượng như Rồng, Phượng, Lá đề… Lá đề – biểu tượng thiêng liêng của Phật giáo – tôn giáo được coi trọng bậc nhất, quốc giáo của thời Lý, thời Trần. Motif trang trí này được sử dụng nhiều trong các sản phẩm điêu khắc, các công trình kiến trúc thời ảnh Rồng thời Lý, biểu tượng tiêu biểu cho nghệ thuật Lý có mặt ở nhiều nơi dưới nền móng của cung điện một thời nguy nga vàng son. Rồng biểu tượng cho sự cao quý, cho sức sống vĩnh hằng và cho sức mạnh của vũ trụ. Rồng thời Lý không chỉ mang ý nghĩa về mặt chính trị – Biểu trưng cho quyền lực mà hình tượng Rồng thời Lý có sự độc đáo riêng không lẫn với bất cứ hình tượng Rồng nào trong các triều đại sau này, thậm chí có một sự độc đáo duy nhất trên thế giới, sự độc đáo không chỉ thể hiện qua các họa tiết hoa văn mà trong tổng thể cấu thành nên cấu trúc chung trên các công trình kiến trúc, điêu khắc… Hình ảnh Rồng và Phượng được đưa vào trong các sản phẩm phục vụ kiến trúc như những chi tiết trang trí đặc trưng thể hiện sự trang trọng, tôn nghiêm cao quý của vương triều Lý. Điều đặc biệt, theo các nhà nghiên cứu hình tượng Rồng – Phượng thời Lý luôn là một cặp – biểu tượng cho Âm Dương. Cặp Phượng – Hoàng, biểu tượng nam – nữ luôn đi kèm nhau. Điều ấy chứng tỏ ở thời Lý vai trò của người phụ nữ trong xã hội được đề cao. Qua những gì tìm thấy được trong di chỉ khảo cổ, minh chứng cho sự phát triển rực rỡ về văn hóa nghệ thuật thời Lý, thời kỳ mà từ triều đình cho tới dân chúng đều một lòng với sự phát triển kinh tế, văn hóa mạnh mẽ, đạt được những thành tựu lớn mà những triều đại phong kiến sau đều lấy đó làm cơ sở cho nền tảng để phát triển thẩm mỹ và văn hóa của triều đại mình. Nói tóm lại, những thành tựu văn hóa nghệ thuật và nhiều lĩnh vực xã hội khác của thời Lý là một đỉnh cao mà những vương triều các thời kỳ sau không vượt qua được. tìm hiểu chi tiết tại Trong các nền văn hóa phương Đông, rồng là biểu tượng của sự cao quý, sức sống vĩnh hằng và sức mạnh hô mưa gọi gió. Đặc biệt là nước Việt với truyền thuyết “con rồng, cháu tiên”, rồng lại là một biểu tượng thiêng liêng. Thời xưa, hình tượng rồng được sử dụng nhiều trong kiến trúc cung đình, đền đài, trang phục vua chúa. Hình tượng rồng trong các thời kỳ tự chủ lâu dài cũng có những điểm đặc trưng tượng rồng thời Lý còn lại đến ngày nay không nhiều, đặc biệt xuất hiện ở các chùa như chùa Dạm, chùa Phật Tích, chùa Long Đội, chùa Chương Sơn, chùa Quỳnh Lâm, chùa Báo Ân, chùa Linh Xứng, chùa Sùng Nghiêm, chùa Diên Thánh… Ở Hoàng thành Thăng Long cũng tìm thấy hình tượng rồng trên gốm thời đầu lập đô nhà thời Lý. Ảnh Daderot, Wikipedia, CC BY-SA thời Lý thân tròn lẳn, khá dài, không có vẩy, uốn khúc mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, trông nhẹ nhàng và thanh thoát. Rồng thường ngẩng đầu lên, miệng há to, mép trên của miệng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm, vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối. Một chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cong và vắt qua vòi mép ở trên, có trường hợp răng nanh rất dài, uốn lượn mềm mại để vươn lên, hoặc với lên bao lấy viên rồng thời Lý dài, dọc sống lưng có một hàng vảy thấp tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây sau. Bụng là đốt ngắn như bụng rắn, có bốn chân, mỗi chân có ba ngón trước, không có ngón chân sau. Vị trí của chân bao giờ cũng đặt ở một chỗ nhất định. Chân trước mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, chân đối xứng phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này. Hai chân sau bao giờ cũng ở gần khoảng giữa khúc uốn thứ ba. Cả bốn chân đều có khủy phía sau và có móng giống chân loài Lý là thời dân tộc mới giành lại được độc lập sau hơn nghìn năm, nên các nghệ nhân có ý thức tạo ra hình tượng rồng khác biệt với hình tượng rồng của Trung thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời Lý, với các đường cong tròn nối nhau, các khúc trước lớn, các khúc sau nhỏ dần và kết thúc như đuôi rắn. Vẩy lưng vẫn thể hiện từng chiếc, nhưng không tựa đầu vào nhau như rồng thời Lý. Có khi vẩy lưng có dạng hình răng cưa lớn, nhọn, đôi khi từng chiếc vẩy được chia thành hai tầng. Chân rồng thường ngắn hơn, những túm lông ở khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như rồng thời Lý mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào khoảng trống trên bức phù điêu. Rồng thời Trần có sự xuất hiện chi tiết cặp sừng và đôi tay.Ảnh Gryffindor, Wikipedia, CC BY-SA rồng thời Trần không phức tạp như rồng thời Lý. Rồng vẫn có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng không uốn nhiều khúc. Chiếc răng nanh phía trước khá lớn, vắt qua sóng vòi. Miệng rồng há to nhưng nhiều khi không đớp quả thời Trần lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát, mạnh mẽ. Thân rồng thường mập chắc, tư thế vươn về phía trước. Cách thể hiện rồng thời Trần không chịu những quy định khắt khe như thời thời Lê Sơ, hình tượng rồng có sự thay đổi hẳn, không nhất thiết là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Mép trên của miệng rồng vẫn kéo dài nhưng được vuốt gần như thẳng ra, bao quanh có một hàng răng cưa kết lại như hình chiếc đá thềm điện Kính Thiên còn sót lại sau khi người Pháp phá điện xây lô cốt. Ảnh chụp năm 1884 – 1885. Điện Kính Thiên được xây dựng năm 1428 đời Vua Lê Thái Tổ và hoàn thiện vào đời Vua Lê Thánh Tông. Ảnh Charles-Edouard Hocquard, Wikipedia, Public DomainRăng nanh rồng Lê Sơ cũng được kéo dài lên phía trên và uốn xoăn thừng ở gốc. Lông được kéo dài ra và đuôi vuốt chếch lên phía sau. Trên lông mày và chiếc sừng hai chạc, đầu sừng cuộn tròn lại. Rồng có râu ngắn và một chân trước thường đưa lên đỡ râu, tư thế thường thấy ở các con rồng đời sau. Cổ rồng thường nhỏ hơn thân, một hiện tượng ít thấy ở những con rồng trước Lê Sơ xuất hiện ở thời điểm Nho giáo Trung Hoa thâm nhập mạnh mẽ vào nước ta. Hình tượng rồng cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi hình tượng rồng Trung tượng con rồng tại Huế. Ảnh AJ Oswald, Wikipedia, CC BY-SA thời Nguyễn ở thế kỷ XIX trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vây trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn cách rồng của từng thời toát lên nét đặc trưng của thời đại đó. Cùng với sự giao thoa văn hóa, hình tượng rồng ngày nay được dùng tùy tiện hơn, và được dùng lẫn lộn với hình tượng rồng phương Tây. Trong khi đều phiên dịch là “rồng”, nhưng con rồng phương Tây trong truyền thuyết thường là loài ác long, thích ăn thịt người, thậm chí xuất phát từ địa ngục. Còn con rồng phương Đông thì được nhìn nhận là loài vật linh thiêng, tôn VọngXem thêmLịch sử thú vị của con rồng Ba TưVài ghi chép trong sử sách về sự xuất hiện của con rồng phương ĐôngMời xem video Hôm nay, muốn chia sẻ không những về họa tiết rồng thời Trần mà mọi người yêu thích, mà softvn còn muốn chia sẻ về họa tiết mỹ thuật thời Trần cũng như của các thời Lý, Trần, Lê và Nguyễn. Cùng tìm hiểu ngay nhé! HỌA TIẾT RỒNG TRONG CÁC TRIỀU ĐẠI LÝ, TRẦN, LÊ, NGUYỄN Họa tiết rồng trong các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn Rồng là biểu tượng của sự cao quý, sức sống vĩnh hằng và là sức mạnh vũ trụ nên hình tượng rồng được sử dụng nhiều trong các kiến trúc cung đình, đình chùa, trang phục vua chúa. Họa tiết hình tượng con rồng cũng thay đổi theo dòng lịch sử trôi qua các triều đại. Việc xác định phong cách thể hiện của con rồng qua các thời kỳ cũng sẽ là một căn cứ để xác định niên đại của công trình kiến trúc nào đó. Họa tiết rồng thời Lý Họa tiết rồng thời Lý Trên những hiện vật điêu khắc đá và gốm còn được truyền cho đến ngày nay, các nhà khoa học chỉ thấy rồng tạc dưới dạng phù điêu, chưa thấy chạm chìm và chạm tròn. Đó là những con rồng thân tròn lẳng, khá dài và cũng không có vẩy, chúng uốn khúc mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, hình tượng rất nhẹ nhàng và thanh thoát. Nhiều nhà nghiên cứu gọi đây là con rồng hình giun hay hình dây và điều đập vào mắt chúng ta là nó mang hình dạng của một con rắn. Họa tiết rồng thời Lý Họa tiết rồng thời Lý thường sẽ ngẩng đầu lên, miệng chúng thì há to, mép trên của miệng chúng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, thân hình vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối người. Bạn sẽ thấy một chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, chúng được uốn cong và vắt qua vòi mép ở trên miệng, có trường hợp răng nanh rất dài, chúng uốn lượn mềm mại để vươn lên, hoặc để với vòi lên bao lấy viên ngọc. Thân hình rồng dài, dọc sống lưng có một hàng vảy mọc thấp tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây phía sau. Bụng là đốt ngắn như bụng của rắn, có bốn chân, mỗi chân sẽ có ba ngón phiá trước và không có ngón chân sau. Vị trí của chân chúng bao giờ cũng đặt ở một chỗ nhất định. Chân trước sẽ mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, chân đối xứng với phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này. Hai chân sau của rồng bao giờ cũng ở nằm gần khoảng giữa khúc uốn thứ ba. Cả bốn chân của chúng đều có khủy phía sau và có những móng giống chân loài chim. Họa tiết rồng thời Trần Họa tiết rồng thời Trần Từ nửa cuối của thế kỷ XIV, con rồng đã rời khỏi kiến trúc cung đình để góp mặt trong các kiến trúc dân dã, không những chúng chỉ có trên điêu khắc đá và gốm, mà chúng còn xuất hiện trên điêu khắc gỗ ở chùa. Chúng cũng không chỉ có ở những vị trí trang nghiêm mà rồng còn có mặt ở những bậc thềm như ở chùa Phổ Minh. Họa tiết rồng thời Trần Thân rồng thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời kỳ nhà Lý, với những đường cong tròn nối nhau, những khúc trước lớn, những khúc sau nhỏ dần và kết thúc như đuôi rắn. Vẩy ở lưng vẫn thể hiện từng chiếc, nhưng không tựa đầu vào nhau như các rồng thời Lý. Có khi vảy lưng của chúng có dạng hình răng cưa lớn, nhọn, đôi khi từng chiếc vẩy rồng được chia thành hai tầng. Chân rồng thường sẽ ngắn hơn, những túm lông ở phần khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như con rồng thời Lý mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào các khoảng trống trên bức phù điêu. Và có sự xuất hiện chi tiết của cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng không có nhiều sự phức tạp như rồng thời Lý. Họa tiết rồng thời Trần vẫn có cái vòi hình lá, vươn lên trên nhưng chúng không uốn nhiều khúc. Chiếc răng nanh phía trước của chúng khá lớn, vắt qua sóng vòi. Miệng rồng há to nhưng nhiều khi sẽ không đớp quả cầu. Họa tiết rồng thời Trần lượn khá thoải mái với những động tác dứt khoát, mạnh mẽ. Thân rồng thường sẽ mập chắc, tư thế sẽ vươn về phía trước. Cách thể hiện trên họa tiết rồng thời Trần không chịu những quy định khắc khe như họa tiết rồng thời Lý. Hình ảnh rồng chầu mặt trời lúc sớm nhất là trong lòng tháp Phổ Minh Nam Định với niên đại khoảng 1305 -1310. Đôi rồng ở đây được bố trí ở một ô tròn, chạy ngược chiều với kim đồng hồ, đầu sẽ ngoái lại chầu một vòng tròn nhỏ ở giữa, thể hiện mặt trời dưới dạng một vòng tròn rất đơn giản. Họa tiết rồng thời Lê Họa tiết rồng thời Lê Đến thời Lê, con rồng có sự thay đổi hẳn, họa tiết rồng thời Lê không nhất thiết phải là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà chúng sẽ với nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn đi ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó sẽ là một chiếc mũi to. Mép trên của miệng rồng vẫn sẽ kéo dài nhưng được vuốt gần như thẳng ra, bao quanh có một hàng vải răng được cưa kết lại như hình chiếc lá. Răng nanh cũng được kéo dài lên phía ở trên và uốn xoăn thừng ở gốc. Lông mày chúng vẫn giữ hình dáng biểu tượng ômêga, nhưng được kéo dài ra và đuôi chúng vuốt chếch lên phía sau. Trên lông mày và trên chiếc sừng hai chạc, đầu sừng cuộn tròn lại. Rồng có râu ngắn và một chân trước của rồng thường đưa lên đỡ râu, tư thế thường thấy ở các con rồng đời sau. Cổ của rồng thường nhỏ hơn thân, là một hiện tượng ít thấy ở các con rồng trước đó. Họa tiết rồng thời Lê Sơ Như vậy rồng mang dạng thú sẽ xuất hiện cuối đời Trần đã thấy phổ biến ở đời Lê Sơ nhưng chúng vẫn còn mang dáng dấp truyền thống của loài rắn. Họa tiết rồng thời Lê Trung Hưng Họa tiết rồng thời Nguyễn Họa tiết rồng thời Nguyễn Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn được đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa một cách sắc nét, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có một bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt các con mồi, rồng trong cảnh lứa đôi. Họa tiết rồng thời Nguyễn Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ đẹp uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện với nhiều tư thế, ẩn mình trong các đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu chữ thọ, chầu hoa cúc,… Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà chúng uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu sẽ chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, miệng há lộ răng nanh, mũi sư tử. Vậy trên lưng rồng có các tia, phân bố dài ngắn một cách đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng với hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng và còn lại là bốn móng. Ngày nay, hình tượng các con rồng tuy không còn mang tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng chúng vẫn được đưa vào trang trí cho những nền công trình kiến trúc, chạm, hội họa, khắc nghệ thuật… Dù ở bất cứ thời điểm nào, con rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của con người Việt. Softvn vừa cùng các bạn tìm hiểu về họa tiết rồng thời Trần, họa tiết mỹ thuật thời Trần cũng như hình ảnh rồng qua các triều đại khác như Lê, Lý, Nguyễn. Hy vọng bài viết này sẽ bổ ích cho các bạn. Chúc các bạn thành công! Có thể bạn quan tâm [TÌM HIỂU] Họa Tiết Thời Trần Lớp 7💝 [TOP 100+] Hình Vẽ Nhỏ Cute Đơn Giản💝

đầu rồng thời lý